Đào tạo – đánh giá BSCI

I. Giới thiệu BSCI

Trong nền kinh tế toàn cầu, việc phát triển sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp phải chịu nhiều sự cạnh tranh và có nhiều thách thức để hội nhập. Một trong những nguyên tắc cơ bản để phát triển một cách bền vững là xây dựng hệ thống sản xuất kinh doanh tốt đi kèm với việc cam kết và thực hiện các trách nhiệm xã hội.

BSCI – Business Social Compliance Initiative – Là bộ quy tắc trách nhiệm xã hội trong kinh doanh. Bộ quy tắc ứng xử BSCI là nền tảng cốt lõi của BSCI và đưa ra 10 yêu cầu lao động mà công ty tham gia BSCI cam kết từng bước thực hiện trong chuỗi cung ứng của họ. Bộ quy tắc ứng xử BSCI phản ánh các tiêu chuẩn lao động quốc tế quan trọng nhất nhằm bảo vệ quyền lợi của người lao động như: Tổ chức Lao động  quốc tế (ILO) và các tuyên bố quan trọng khác của Liên Hiệp Quốc, hướng dẫn của OECD cho các doanh nghiệp đa quốc gia và Hiệp ước Toàn cầu của Liên Hợp Quốc.

Mục tiêu cuối cùng của BSCI là cải thiện điều kiện làm việc trong chuỗi cung ứng toàn cầu trên toàn thế giới. Mục tiêu này chỉ có thể đạt được thông qua một cam kết mạnh mẽ từ những người tham gia thực hiện hệ thống. BSCI hoạt động dựa trên các nguyên tắc sau đây:

– Cam kết: Những người tham gia cam kết thực hiện Bộ quy tắc ứng xử BSCI như là một phần của mối quan hệ kinh doanh của họ với các nhà sản xuất, cho thấy sự sẵn sàng để cải thiện điều kiện làm việc trong chuỗi cung ứng của họ.

– Phù hợp: Chúng tôi cung cấp một hệ thống duy nhất và thống nhất cho các nhà sản xuất trên toàn thế giới bao gồm một quy tắc ứng xử và một quá trình thực hiện, bảo đảm tính thống nhất và so sánh trong đánh giá.

– Toàn diện: Hệ thống tuân thủ quy tắc ứng xử BSCI là áp dụng cho cả các công ty lớn và nhỏ và bao gồm tất cả các sản phẩm sản xuất công nghiệp có nguồn gốc từ bất cứ quốc gia nào.

– Phát triển theo định hướng: BSCI không phải là một chương trình chứng nhận. Chúng tôi cung cấp một phương pháp tiếp cận phát triển từng bước giúp các nhà sản xuất thực hiện các quy tắc ứng xử dần dần. Các nhà sản xuất đáp ứng tất cả các yêu cầu BSCI được khuyến khích đi xa hơn và đạt được thực tế của chúng tôi tốt nhất, hệ thống quản lý xã hội SA8000 và cấp giấy chứng nhận phát triển bởi Trách nhiệm Xã hội Quốc tế (SAI).

– Đáng tin cậy: BSCI chỉ sử dụng các công ty đánh giá có kinh nghiệm và độc lập bên ngoài để thực hiện đánh giá.

– Tập trung vào các quốc gia có nguy cơ: BSCI tập trung vào các quốc gia có nguy cơ mà vi phạm các quyền của người lao động xảy ra thường xuyên như là: Trung Quốc, Bangladesh, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ. . .

– Hiệu quả: Sẵn có hệ thống cơ sở dữ liệu về các nhà sản xuất để tránh trùng lặp kiểm tra tại các nhà máy đã có trong hệ thống.

– Dựa trên tri thức: Tích hợp nghiên cứu ở cấp độ sản xuất để phát triển kiến ​​thức và kỹ năng về cách cải thiện điều kiện làm việc trong nhà máy.

– Hợp tác: BSCI khuyến khích sự tham gia của các bên liên quan ở châu Âu và các nước sản xuất.

* Định nghĩa của các nước rủi ro dựa trên các định nghĩa trong chỉ số phát triển con người của Liên hợp quốc và sự tham nhũng Chỉ số cảm nhận của Tổ chức minh bạch Quốc tế.

II. Các yêu cầu:

1-  Tuân thủ pháp luật

Tuân theo toàn bộ pháp luật và các quy định hiện hành, các tiêu chuẩn tối thiểu của ngành, các Công ước của ILO (Tổ chức lao động quốc tế) và của Liên Hiệp Quốc, và các yêu cầu tương tự khác có liên quan, phải áp dụng các tiêu chuẩn có qui định nghiêm ngặt hơn. Trong ngành Nông Nghiệp thì cần phải tôn trọng và tuân thủ theo Công ước ILO số 110.

2-  Tự do lập Hội và Quyền Thương lượng Tập thể

Mọi cá nhân đều có quyền tự do lựa chọn thành lập, tham gia và tổ chức công đoàn và người đại diện cho mình để thương lượng tập thể với doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải tôn trọng quyền này của họ, và phải thông báo một cách có hiệu quả đến các cá nhân là họ được tự do tham gia vào tổ chức mà họ chọn và rằng sự tham gia của họ sẽ không có hậu quả gì xấu, doanh nghiệp sẽ không trả đũa. Doanh nghiệp không được can thiệp vào việc thành lập, hoạt động, hay công tác quản lý của các tổ chức đó của người lao động hoặc thương lượng tập thể – dưới bất kỳ hình thức nào. Trong trường hợp nếu quyền tự do hiệp hội và thương lượng tập thể bị pháp luật hạn chế (hoặc cấm), thì doanh nghiệp phải cho phép người lao động tự do bầu chọn những người đại diện cho mình. Doanh nghiệp phải đảm bảo rằng những người đại diện cho người lao động và bất kỳ cá nhân nào tham gia tổ chức này của người lao động sẽ không bị phân biệt đối xử, bị gây phiền nhiễu, bị đe dọa, hay bị trả đũa vì lý do họ là thành viên của một tổ chức công đoàn hay có sự tham gia các hoạt động công đoàn, và phải cho phép những người đại diện này được tiếp cận với đoàn viên của mình trong môi trường làm việc.

–      Phù hợp với các Công Ước ILO số 11, 87, 98, 135 và 154.

3-  Cấm Phân biệt đối xử

Không được phân biệt đối xử trong các lĩnh vực tuyển dụng, lương bổng, đào tạo – huấn luyện, để bạt thăng chức, chấm dứt hợp đồng lao động hay nghỉ hưu dựa trên giới tính, tuổi tác, tôn giáo, chủng tộc, địa vị xã hội, nguồn gốc (dòng dõi), bối cảnh xã hội, sự tàn tật, nguồn gốc sắc tộc và quốc gia, quốc tịch, hội viên trong tổ chức của người lao động (công đoàn), bao gồm các hiệp hội, sự gia nhập chính trị, định kiến chính trị, định hướng giới tính, các trách nhiệm gia đình, tình trạng hôn nhân, hoặc bất kỳ môt điều kiện nào khác có thể làm phát sinh tình trạng phân biệt đối xử

–       Phù hợp với các Công ước ILO 100, 111, 143, 158, 159, 169 và 183.

4-  Lương bổng

Tiền lương trả cho giờ làm việc thông thường, giờ làm thêm và các khoản chênh lệch của giờ làm thêm phải bằng hoặc cao hơn lương tối thiểu do luật định và/hoặc do các tiêu chuẩn ngành qui định. Không được khấu trừ lương trái phép, không đúng qui định hay kỷ luật bằng cách trừ lương. Trong trường hợp lương theo quy định của pháp luật và/hoặc các tiêu chuẩn ngành mà không đủ để chi trả chi phí sinh hoạt và không còn thu nhập sau thuế hay sau khi chi trả các chi phí, chúng tôi khuyến khích các công ty cung ứng nên chi trả mức lương thỏa đáng cho người lao động đáp ứng được các nhu cầu cơ bản trong cuộc sống. Cấm khấu trừ lương như là một hình thức hay biện pháp kỷ luật người lao động, trừ khi được pháp luật nước sở tại và thỏa ước lao động tập thể còn hiệu lực cho phép. Các công ty cung ứng phải đảm bảo cơ cấu các khoản lương bổng, trợ cấp và phúc lợi phải được liệt kê chi tiết, rõ ràng và thường xuyên cho người lao động; đồng thời, công ty cung ứng phải đảm bảo các khoản lương bổng, trợ cấp và phúc lợi này được thực hiện tuân thủ đầy đủ tất cả các qui định của pháp luật hiện hành và tiền lương phải được chi trả theo cách thuận tiện cho người lao động.

Lương làm thêm giờ phải được trả ở mức cao hơn và phải theoqui định của pháp luật quốc gia. Ở những quốc gia mà mức lương làm thêm giờ không được qui định trong pháp luật quốc gia và trong thỏa ước lao động tập thể, thì người lao động phải được trả lương làm thêm giờ ở mức cao hơn bình thường hoặc bằng với các tiêu chuẩn ngành hiện hành, phải áp dụng tiêu chuẩn nào có lợi hơn cho người lao động.

– Phù hợp với các Công ước ILO 12, 26, 101, 102 và 131.

5-  Thời Giờ làm việc

Công ty cung ứng phải tuân thủ các qui định của pháp luật quốc gia hiện hành và các tiêu chuẩn ngành về thời giờ làm việc và nghỉ lễ. Thời giờ làm việc tối đa cho phép trong một tuần theo qui định của pháp luật quốc gia, tuy nhiên thời gian làm việc bình thường không được vượt quá 48 giờ một tuần và số giờ làm thêm cho phép tối đa trong một tuần không được vượt quá 12 giờ. Làm thêm giờ là trên cơ sở tự nguyện và lương làm thêm giờ phải được trả ở mức cao hơn bình thường.

Trong trường hợp, doanh nghiệp cần làm thêm giờ để đáp ứng nhu cầu sản xuất trong ngắn hạn và doanh nghiệp có tham gia thỏa ước lao động tập thể với tổ chức của người lao động (như đã đề cập ở phần trên) đại diện cho phần lớn người lao động, thì doanh nghiệp cần phải tuân theo thỏa thuận về thời giờ làm thêm được ghi trong thỏa ước đó. Bất kỳ thỏa ước nào cũng phải tuân thủ theo các yêu cầu nêu trên.

Mỗi người lao động đều được phép có ít nhất một ngày nghỉ sau sáu ngày làm việc liên tục. Trường hợp ngoại lệ chỉ được áp dụng khi đáp ứng được cả hai điều kiện sau đây:

a)    Pháp luật quốc gia cho phép làm thêm giờ vượt quá giới hạn này; và

b)    Thỏa ước lao động tập thể còn hiệu lực cho phép tính trung bình thời gian làm việc, bao gồm cả thời giờ nghỉ ngơi.

– Phù hợp với các Công ước ILO 1 và 14 và Khuyến cáo ILO 116.

6-  An toàn & Sức khỏe tại nơi làm việc

Doanh nghiệp phải cung cấp một môi trường làm việc an toàn và trong lành, phải có các biện pháp hữu hiệu trong việc phòng ngừa tai nạn lao động và thương tật ảnh hưởng đến sức khỏe của người lao động, có liên quan đến hoặc có thể xảy ra trong quá trình làm việc, bằng cách giảm thiểu tối đa các nguyên nhân gây ra rủi ro, nguy hiểm vốn có trong môi trường làm việc và cần có các kiến thức thông thường về ngành và các mối nguy hiểm đặc thù. Cần thiết lập một tập hợp và tuân thủ các quy định và thủ tục rõ ràng về an toàn và sức khỏe nghề nghiệp, đặc biệt là qui định về sử dụng thiết bị bảo hộ lao động cá nhân, phải có nhà vệ sinh và các thiết bị vệ sinh sạch sẽ, nước uống di động nếu phù hợp, các thiết bị vệ sinh an toàn để lưu trữ thực phẩm.

Doanh nghiệp phải đảm bảo các thiết bị trong ký túc xá được cung cấp cho cá nhân phải sạch sẽ, an toàn, và đáp ứng được các nhu cầu cơ bản của cá nhân. Mọi người đều có quyền rời khỏi khu vực nguy hiểm nghiêm trọng có thể xảy ra trước mắt mà không cần phải xin phép doanh nghiệp.

Cấm có các thông lệ và các điều kiện trong môi trường làm việc, các điều kiện trong ký túc xá vi phạm đến các quyền lợi cơ bản của con người. Đặc biệt là đối với lao động trẻ tuổi, không được để họ làm việc trong môi trường rủi ro, nguy hiểm, không an toàn, hoặc thiếu trong lành không tốt cho sức khỏe.

–       Phù hợp với Công ước ILO 155, 184 và Khuyến cáo ILO 164 và 190.

Đặc biệt, cần phải chỉ định một đại diện ban quản lý chịu trách nhiệm về an toàn và sức khỏe cho toàn thể nhân sự và chịu trách nhiệm triển khai thực hiện các quy định về An toàn và Sức khỏe của BSCI. Tất cả mỗi cá nhân đều phải được huấn luyện về an toàn và sức khỏe thường xuyên và phải có ghi nhận, ngoài ra, cần phải huấn luyện lặp đi lặp lại cho lao động mới tuyển và khi lao động được phân công vào một công việc khác hay nhiệm vụ khác.

Cần phải thiết lập các hệ thống để phát hiện, ngăn ngừa hoặc đối phó lại với những mối nguy hiểm tiềm ẩn ảnh hưởng đếnsức khỏe và an toàn của toàn thể nhân sự.

7-  Cấm sử dụng Lao động Trẻ em

Cấm sử dụng lao động trẻ em như đã được qui định trong các Công ước của ILO và Liên Hiệp Quốc và/hoặc pháp luật quốc gia. Trong các tiêu chuẩn này, doanh nghiệp phải tuân thủ theo tiêu chuẩn nào nghiêm ngặt nhất. Cấm mọi hình thức bóc lột trẻ em. Cấm những điều kiện làm việc như nô lệ hoặc có hại cho sức khỏe trẻ em. Quyền lợi của các lao động trẻ tuổi phải được bảo vệ. Trong trường hợp phát hiện có lao động trẻ em làm việc trong các điều kiện như nêu trên về lao động trẻ em, thì công ty cung ứng phải thiết lập và lưu giữ các chính sách và các qui trình thủ tục sửa chữa, khắc phục bằng văn bản. Ngoài ra, công ty cung ứng đó phải chu cấp thỏa đáng về mặt tài chính và các hỗ trợ khác để giúp đỡ những trẻ em này được đến trường lớp học hành đến khi đủ tuổi thành niên.

–       Phù hợp với các Công ước ILO 10, 79, 138, 142 và 182 và Khuyến cáo ILO 146.

8-  Cấm Cưỡng bức Lao động và các Biện pháp Kỷ luật

Mọi hình thức lao động ép buộc như phải nộp tiền đặt cọc hoặc giữ lại các giấy tờ tùy thân cá nhân khi tuyển dụng lao động làm việc đều bị cấm, và cấm lao động tù nhân vì đó là vi phạm quyền lợi cơ bản của con người.

Cấm công ty hay đơn vị cung ứng lao động cho doanh nghiệp không được giữ lại bất kỳ khoản nào trong tiền lương, tiền công, phúc lợi, tài sản, hay giấy tờ của bất kỳ cá nhân nào để ép buộc họ tiếp tục làm việc cho doanh nghiệp.

Cá nhân có quyền rời khỏi nơi làm việc hoặc nhà máy khi hết giờ làm việc tiêu chuẩn trong ngày, và tự do chấm dứt hợp đồng lao động hay thôi việc nếu có thông báo trước hợp lý cho người sử dụng lao động.

Cấm công ty hay đơn vị cung ứng lao động cho doanh nghiệp có tham gia hay hỗ trợ buôn bán con người.

Doanh nghiệp phải đối xử tôn trọng danh dự và nhân phẩm với mọi cá nhân. Doanh nghiệp không được tham gia hay có những hành vi trừng phạt về thể xác, tinh thần hay áp bức, bạo lực và có những lời nói xúc phạm đến cá nhân.

–       Phù hợp với các Công ước ILO 29 và 105.

9-  Các vấn đề về an toàn và môi trường

Các qui trình thủ tục và tiêu chuẩn về quản lý, xử lý và loại bỏ rác thải là hóa chất và các chất thải độc hại khác, công tác xử lý khí thải và nước thải phải phù hợp hoặc tốt hơn các yêu cầu tối thiểu luật định.

10-         Hệ thống Quản lý

Công ty cung ứng phải xác định và triển khai thực hiện chính sách về trách nhiệm xã hội, có hệ thống quản lý để đảm bảo phù hợp với các yêu cầu của Bộ qui tắc ứng xử BSCI, đồng thời thiết lập và tuân thủ chính sách chống tham nhũng / hối lộ trong các hoạt động kinh doanh của mình. Ban quản lý phải phụ trách triển khai thực hiện hành động khắc phục và cải thiện không ngừng bằng các biện pháp khắc phục và định kỳ xem xét lại Bộ qui tắc ứng xử, cũng như thông tin về các yêu cầu của Bộ qui tắc ứng xử cho toàn thể nhân viên. Ngoài ra, cũng cần phải tập trung vào giải quyết các mối quan tâm của người lao động về việc không tuân thủ theo các tiêu chuẩn của Bộ qui tắc ứng xử.

Các phụ lục sau đây là phần không thể thiếu của Bộ luật Ứng xử này:

–       Tuyên bố của công ty cung ứng

–       Các điều khoản thực hiện

–       Hậu quả việc Không tuân thủ