Chứng nhận Halal

Người Hồi giáo thường tin dùng những sản phẩm có chứng chỉ Halal. Dù mức giá xuất khẩu sản phẩm có chứng chỉ Halal ngang bằng với các sản phẩm khác nhưng tính cạnh tranh lại cao hơn. Do đó, đạt được chứng chỉ Halal sẽ là một lợi thế giúp các doanh nghiệp thực phẩm Việt Nam thành công trên thị trường Hồi giáo toàn cầu.

 1.Xây dựng hướng tiếp cận đúng đắn

Hồi giáo là tôn giáo lớn thứ hai trên thế giới, đồng thời là cộng đồng có tốc độ phát triển nhanh nhất trên toàn thế giới cũng như tại các quốc gia châu Á. Cho dù có sự đa dạng về mặt địa lý và dân tộc nhưng tất cả những người Hồi giáo đều tuân theo những đức tin và tôn giáo của đạo Hồi, trong đó tiêu dùng thực phẩm Halal được coi như một nghĩa vụ tôn giáo mà các tín đồ Hồi giáo phải tuân thủ. Đây được coi là cơ hội rộng lớn mở ra cho các DNXK của Việt Nam với thế mạnh về các sản phẩm nông nghiệp.
Hiện tại, mỗi năm nước ta có khoảng trên 50 công ty được cấp chứng nhận Halal với các sản phẩm chủ yếu là hải sản, đồ uống, thực phẩm đóng hộp, bánh kẹo, đồ ăn chay và dược phẩm. Tuy nhiên, để có được chứng chỉ này, DN Việt Nam sẽ tốn không ít công sức khi phải tìm hiểu kỹ về văn hóa Hồi giáo bởi người Hồi giáo rất chú trọng đến tâm linh và đức tin. Nếu trong một bản chương trình làm việc với các đối tác Hồi giáo có thời gian cũng như lịch trình để họ thực hiện các nghi thức cầu nguyện theo đức tin của người Hồi giáo, DN sẽ được đối tác trân trọng và sẽ có thiện chí hợp tác. Đối với quá trình sản xuất, DN cũng sẽ phải quan tâm đến rất nhiều yếu tố từ nhà xưởng (phải có sự tách biệt giữa nhà xưởng sản phẩm Halal với sản phẩm không Halal), các yêu cầu về thiết bị cũng phải được tách biệt, không sử dụng chung, lẫn lộn các thiết bị… Ngay đến vấn đề cá nhân, công nhân trong các khâu sản xuất, DN cũng phải tách biệt rõ ràng, quy định cụ thể các tiêu chí sản xuất về mặt tôn giáo bởi vì đây không đơn thuần là yếu tố kỹ thuật mà đây chính là niềm tin, đức tin của người Hồi giáo khi tham gia quá trình sản xuất. Không quá khó khăn để các DN đáp ứng tiêu chuẩn Halal cũng như các quy định của Luật Hồi giáo nếu DN nhận thức được rõ ràng những gì DN đang làm và là vì quyền lợi của người Hồi giáo.
Một đặc điểm nữa là nhiều DN Việt Nam chưa tiếp cận đúng đắn các quy định thương mại của các nước Hồi giáo nói chung và còn nhầm lẫn về khái niệm Halal. Chẳng hạn như phần đông các DN đều nghĩ rằng 100% đồ chay chính là sản phẩm Halal, hay là sản phẩm không thịt mỡ, thịt heo thì có thể bán và sử dụng ở thị trường Hồi giáo. Đây là cách hiểu chưa chính xác, các DN nên tìm hiểu chi tiết hơn để tiếp cận đúng đắn các quy định thương mại của các nước Hồi giáo.

2. Tận dụng cơ hội từ thách thức

Mặc dù để có được chứng chỉ Halal là điều không hề đơn giản, song theo Vụ Thị trường châu Á – Thái Bình Dương (Bộ Công Thương), đây mới là điều kiện cần nhưng chưa đủ để đảm bảo thành công trong thương mại sản phẩm Halal. Bởi tại hầu hết các nước NK thực phẩm Halal hiện nay, nguồn cung trong nước vẫn chiếm một tỷ trọng lớn trên thị trường nội địa, các sản phẩm NK nhìn chung chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ. Ngay cả đối với những quốc gia mà các sản phẩm Halal chiếm tỷ trọng tương đối cao như tại các nước thành viên thuộc Hội đồng Hợp tác Vùng vịnh (GCC), việc đơn thuần chỉ dựa vào chứng chỉ Halal của sản phẩm cũng chưa chắc đã mang lại hiệu quả.
Hơn thế nữa, các thị trường sản phẩm Halal không giống với các thị trường phổ biến khác. Mỗi thị trường sản phẩm Halal là một thị trường riêng biệt được phân khúc bởi sắc tộc, địa điểm, thu nhập và một vài nhân tố khác. Do đó, một chiến lược hay một sản phẩm chung cho tất cả các thị trường sẽ không hiệu quả. Nhà sản xuất cần nghiêm túc cân nhắc sự tương thích của sản phẩm với từng thị trường mục tiêu. Tính toàn vẹn trong chuỗi cung ứng Halal cũng phải được duy trì vì một khi người tiêu dùng mất niềm tin vào tính chất Halal của sản phẩm, sản phẩm sẽ không được tiêu thụ và ảnh hưởng tới tất cả các bên liên quan trong chuỗi cung ứng.
Ngoài ra, các sản phẩm Halal là các sản phẩm quốc tế nên bao bì và nhãn mác cũng phải đạt tiêu chuẩn toàn cầu. Hầu hết các sản phẩm Halal tại thị trường các nước XK đều không đạt tiêu chuẩn vì bao bì chất lượng thấp, khả năng thích nghi với thị hiếu địa phương kém và không có thương hiệu. Việc nhận biết thương hiệu và lòng trung thành của người tiêu dùng với thương hiệu hay sản phẩm phải được xây dựng dần theo thời gian và không thể đạt được trong ngày một ngày hai. Song một khi nhà sản xuất có được nhân tố này, lợi ích thu lại sẽ là rất lớn.
Thêm vào đó, hoạt động Logistics có thể là một trở ngại lớn và làm quá trình phân phối tại nhiều quốc gia trở nên cực kỳ khó khăn. Chẳng hạn như việc XK các sản phẩm thực phẩm Halal vào một vài quốc gia Trung Á chỉ có thể được thực hiện bằng hình thức vận tải đa phương tiện do các quốc gia này không có cảng biển, tất yếu chi phí cũng sẽ bị đẩy lên cao. Các nhà kinh doanh thực phẩm Halal theo đó nên cân nhắc việc kết hợp hoạt động sản xuất và Logistics trở thành mạng lưới cung ứng hiệu quả.
Ngành công nghiệp Halal rõ ràng là rất rộng lớn, mở ra nhiều cơ hội XK mới cho hàng hóa của Việt Nam. Trong đó, chứng chỉ Halal sẽ là căn cứ đích xác, hợp pháp và độc lập cho DNXK thâm nhập vào những thị trường Hồi giáo. Bởi vậy, các DN Việt Nam một khi đã xác định được hướng đi đúng đắn và nắm chắc những thông tin cần thiết sẽ có cơ hội thành công lớn tại các thị trường thực phẩm Halal toàn cầu.

3.Quy trình và thủ tục cấp chứng nhận

Các đơn vị cấp chứng nhận sẽ căn cứ vào phiếu yêu cầu cấp chứng nhận HALAL của nhà máy. Sau đó, họ tiến hành kiểm tra thực tế toàn bộ nhà máy, quy trình, quá trình gia công sản xuất, các nguyên phụ liệu tham gia vào sản xuất, bảo quản, vận chuyển… xét nghiệm mẫu sản phẩm cuối cùng. Khi nhà máy đạt được các yêu cầu, tổ chức chứng nhận sẽ cấp giấy chứng nhận và nhà máy sẽ được phép gắn logo HALAL lên tất cả các sản phẩm nhà máy sản xuất.